19052012

Cập nhật lúc:02:03:32 AM GMT

Back Chuyển động Mục lục: Những nẻo đường âm nhạc Nhà hát Ca múa nhạc VN – Nơi gìn giữ bản đồ âm nhạc và múa dân tộc

Nhà hát Ca múa nhạc VN – Nơi gìn giữ bản đồ âm nhạc và múa dân tộc

  • PDF.

Được thành lập và tồn tại đã tròn một vận hội (60 năm) từ 1951 đến 2011, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam trải qua biết mấy thăng trầm.

Để có những thành tích vẻ vang cho tới hôm nay, đã có bao công sức, bao dâng hiến từ những tài năng bậc thầy như Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Trọng Bằng, Trần Quý, Thái Ly, Chu Thúy Quỳnh… đến những cán bộ công nhân viên thầm lặng. Tất cả đều minh chứng một điều lớn lao, đó là việc nhà hát này là nơi duy nhất có nhiệm vụ gìn giữ bản đồ âm nhạc và múa dân tộc. Gìn giữ như người lính gìn giữ biên cương, hải đảo của tổ quốc thân yêu. Nếu vẽ ra một bản đồ Việt Nam bằng các giai điệu âm nhạc và các điệu múa, ta sẽ thấy hiện lên thật thú vị một bản đồ Việt Nam hết sức đặc biệt làm rung động tình yêu đất nước trong mỗi con tim chúng ta.

Ngay từ ngày đầu thành lập cho tới năm đầu chiến tranh chống Mỹ, bản đồ ấy đã hiện lên những đường viền xúc động, những miền âm thanh và nhịp điệu xao xuyến khiến ta hình dung ra hình ảnh tổ quốc Việt Nam cong một đường thái cực (đồng dạng với chữ S la tinh). Đấy là những đường viền biên cương miền Bắc, miền Trung và miền Nam khi ta thả hồn từ địa đầu Tây Bắc sang Việt Bắc và Đông Bắc, ta thả hồn rong ruổi từ Bắc vào Nam qua những tiết mục mà đoàn đã dàn dựng, biểu diễn trên bao miền đất nước. Ta bắt đầu từ “Múa nón”, “Múa sạp” của người Thái, “Múa ô”, “Múa khèn” của người Mông, “Khâu giày tặng người yêu” của người Lô Lô, “Múa chuông” của người Dao, múa “Chim câu” của người Cao Lan, rồi bước xuống trung du với “Bà Rằng – Bà Rí” của người Phú Thọ đất Tổ, “Người đi đâu”, “Giã bạn” của người Quan Họ Bắc Ninh đất Kinh Bắc và từ  đấy là tràn trề một âm thanh và dáng điệu của đồng bằng châu thổ Bắc với những “Cướp bông”, “Đàn bướm mừng xuân”, “Tấm cám”, “Hát bỏ bộ”, “Hát văn”, để rồi chợt khỏe khoắn với nhịp “Chèo thuyền trên sông Mã” (độc tấu khèn bè) để xuyên hành lang miền Trung chật chội và phức cảm với những “Du xuân”, “Lý Hoài Nam”, “Lưu thủy”, “Kim Tiền”, “Xuân phong”, “Long hổ”, “Tấu mã”, “Hồ quảng”, “Tây mai”, “Nguyên tiêu”, “Lý hành vân”, rồi mở ra mênh mang giọng “Ru con Nam Bộ”, để chợt ngước lên Tây Nguyên với  “Múa roong chiêng” và “Người về buôn rẫy” …

Dần dà qua tình yêu đất nước, qua năm tháng, bản đồ ấy cứ được đắp bồi dần những tác phẩm như dòng sông đắp bồi phù sa. Bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ, bản đồ ấy được đắp bồi thêm múa “Cây tre Việt Nam”, “Múa guốc”, “Những cô gái Tây Nguyên”, “Thạch Sanh”, “Chàm Rông”, “Hội mùa”, “Ka tu”, “Tuần đuốc”, những ca khúc “Inh lả ơi”, “Trước ngày hội bắn”, “Người Chân Yên em bắn máy bay”, “Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi”, “Tiễn anh lên đường”, “Quảng Bình quê ta ơi”, “Con cua đá” và những ca cảnh “Đến hẹn lại lên”, “Mùa xuân lên nương”. Âm thanh ấy còn được khắc họa rõ nét trong những hòa tấu dàn nhạc dân tộc hay độc tấu như “Kể chuyện ngày mùa” (độc tấu nhị), “Xe chỉ luồn kim”, “Tình quê hương”, “Vì miền Nam” (độc tấu đàn bầu cùng dàn nhạc), “Mùa xuân Tây Nguyên” (hòa tấu), “Chim poong kle” (độc tấu sáo trúc), “Vó ngựa biên cương” (độc tấu đàn tam), “Du xuân” (độc tấu kèn bóp), “Mùa xuân” (độc tấu đàn Kloong peét), “Tình quân dân” (độc tấu nguyệt), “Trên đường chiến thắng” (độc tấu sáo trúc), v.v.. Cứ thế, bản đồ qua năm tháng chiến tranh cứ đầy thêm những vùng âm thanh và nhịp điệu.

Từ ngày thống nhất đất nước, bản đồ này có thêm điều kiện để lấp dần những khoảng trống. Từ năm 1975 đến 1985 đã thêm bao nhiêu tác phẩm trở thành tiết mục biểu diễn. Tây Bắc có thêm múa “Tình ca Tây Bắc”, độc tấu sáo Mông “Đêm trăng nhớ bạn”, độc tấu sáo Khơ Mú “Dân ca Khơ Mú”. Việt Bắc có thêm “Mùa hoa ban”, “Màu xanh trên cao”. Miền Trung du có thêm màn múa hát “Người ở đừng về”. Đồng bằng Bắc Bộc có thêm múa “Những cô gái làng”, “Dệt một niềm tin”, “Trống bồng”, “Hát văn”,  hòa  tấu “Vui hội mùa”, “Quê hương”, độc tấu đàn đáy “Trăng rằm”. Miền Trung có thêm “Múa Ka-te”, “Kỷ niệm Trường Sơn”, tốp ca nữ “Tiếng đàn Ta-lư”, độc tấu trống “Trống trận Quang Trung”. Tây Nguyên có thêm múa “Ngọn lửa cao nguyên”, “Hai chàng trai buôn rẫy”, “Tình ca Tây Nguyên”, độc tấu đàn T'rưng “Mùa xuân Tây Nguyên”, độc tấu đàn Kloong peét và Đinh pa “Vũ hội Hơ rê”, độc tấu đàn koni “Dân ca Tây Nguyên”. Nam Bộ có thêm múa “Nhạc rừng”, “Hẹn hò”, “Dáng đứng Bến Tre”, “Mái tóc”, “Múa Khơ me”.

Bước sang thời kỳ đổi mới, dường như những khoảng trống đã được lấp đầy. Một bản đồ âm nhạc và múa dân tộc đã được vẽ lên từ sự gìn giữ đồng dạng với bản đồ tổ quốc với sự chung sống của 54 dân tộc anh em. Người Việt Nam có phải ai cũng có điều kiện đi tới tất cả các vùng đất của tổ quốc mình. Nhưng họ có thể hình dung ra một bản nhỏ của người Châu Ro khi xem điệu múa “Tình yêu trên bản Châu Ro” để thêm hiểu một góc khuất trên dải Trường Sơn, điều đó sẽ khơi dậy ngọn lửa của tình yêu đất nước trong con tim mọi người. Điều tương tự như thế cũng sẽ có qua thưởng thức những điệu múa khác như “Nhịp crap đêm trắng”, “Những cô gái Hà Nhì”, “Đêm trăng tháp cổ”, “Tiếng trống Paranung”, v.v. hay những tác phẩm khí nhạc “Bức tranh vùng cao” (song tấu sáo), tốp ca nữ “Lời cây đàn tính” …

Một ý nghĩa rất quan trọng của việc gìn giữ không chỉ nằm riêng ở việc phục chế âm thanh, nhịp điệu của dân tộc như nó vốn có, mà còn là việc từ gốc gác, hồn cốt đó. Nhà hát còn xây dựng trên mảnh đất cũ, những kiến trúc cũ đan xen những kiến trúc mới, vừa phảng phất cổ sơ, vừa lạ lẫm đương đại. Cái hôm nay và cái xa xưa hòa quyện vào nhau ngày càng nhuần nhuyễn đến mức không thể tách ra được, không nhận ra rõ đâu là cũ, đâu là mới. Nhà hát đã góp phần tạo nên sự thành công trong chiến lược âm nhạc và múa Việt Nam. Điều đó khiến bản đồ âm nhạc và múa dân tộc càng ngày càng lấp lánh, càng khác biệt như chính dân tộc ta, đất nước ta muôn ngàn năm ghi danh trên bản đồ thế giới.

Nguyễn Thụy Kha ANVN22 (11-2011)


Bài liên quan:
Bài mới hơn:
Bài cũ hơn: