Thị trấn Ô Môn – vựa lúa của xứ “Cần Thơ gạo trắng nước trong” là nơi chào đời của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Má La Thị Xinh sanh ra cậu con trai này thật đặc biệt.
Đó là ngày 12.9.1921. Cậu bé sanh nhằm giờ Dậu, ngày Dậu, tháng Dậu (sắp rằm Trung Thu) và năm Tân Dậu 1921. Cái tứ trùng này là điềm lành nên thày giáo Lưu Nhân – ba của Lưu Hữu Phước mới đặt tên con trai mình như vậy.
Lưu Hữu Phước đã không phụ lòng ba má. Đến tuổi học là làu làu “Tam tự kinh”, “Minh tâm bửu giám”. Lên 9 tuổi, Lưu Hữu Phước đã học đờn kìm của thày Ngô Đảnh – người Phú Yên. Chỉ một tuần, Phước đã thuộc ngay hai mươi câu “vọng cổ” nhịp tám. Âm nhạc đã ngấm vào Phước từ thuở nằm nôi khi mẹ ru “Lý con sáo”, “Bình bản”, “Kim tiền”, “Lý bốn mùa”… đã vực Lưu Hữu Phước lớn dậy ở tuổi thiếu niên. Cây mandoline bị hỏng ai đó vất đi đã được ba Phước xin về, trở thành nhạc khí đầu tiên của cậu bé yêu âm nhạc. Cây đàn được Phước tự làm phím tre, cuốn dây đàn bằng tơ đã giúp Phước nhập vào Collège Cần Thơ với năng khiếu âm nhạc năm 12 tuổi. Ở đây, Lưu Hữu Phước bắt đầu bước từ Cổ nhạc sang Tân nhạc khi được ba mua cho cây mandoline thực sự.
Ở Collège Cần Thơ, thày Phạm Văn Bạch như một luồng gió tư tưởng mới mẻ thổi giữa một vầng hào quang rực rỡ khiến những học trò như Nguyễn Việt Nam, Trần Bửu Kiến, Nguyễn Mỹ Ca, Quách Vĩnh Chương, Tạ Thanh Sơn và Lưu Hữu Phước bừng tỉnh một tinh thần dân tộc. Chưa hề đến sông Hương, xứ Huế lần nào, cậu bé 12 tuổi Lưu Hữu Phước đã liều mạng viết bài hát “Trên sông Hương” còn trước cả người đàn anh Nguyễn Văn Thương cũng với tựa đề này. Ngay sau đó vài năm, bản nhạc “Giang sơn gấm vóc” viết cho đờn kìm như một lời chào tuổi 15 của Lưu Hữu Phước.
16 tuổi, Lưu Hữu Phước lên thành đô Sài Gòn nhập trường lycée Pétrus Ký. Ở đó cùng Trần Văn Khê và Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước lập ra “câu lạc bộ học sinh” với những sáng tác tươi ròng tuổi trẻ.
19 tuổi, Lưu Hữu Phước ra học đại học ở Hà Nội. Ngay trên chuyến tàu xuyên Việt, hành khúc “Ta cùng đi” đã được ông viết ra. Ở Hà Nội, ông trở thành chủ soái của phong trào “Tổng hội sinh viên” với những hành khúc yêu nước như “Bạch Đằng Giang”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Tiếng gọi thanh niên”, “Lên đàng” và đặc biệt là sáng tác âm nhạc cho vở nhạc kịch đầu tiên “Tục lụy” với lời thơ của Thế Lữ. Sự nghiệp âm nhạc rực rỡ của Lưu Hữu Phước đã như được thiên định từ thuở thiếu thời và cứ thế chiếu sáng mãi qua nhiều thập kỷ biến động của lịch sử Việt Nam.
Năm 1944, Lưu Hữu Phước bỏ học trở về Nam cùng những hành khúc mới mà ông vừa viết ra như “Xếp bút nghiên”, “Mau về Nam”, “Gieo ánh sáng”, “Hờn sông Gianh”. Về Sài Gòn, Lưu Hữu Phước cùng bạn bè tham gia tranh đấu, làm báo Thanh Niên.
Những hoạt động ấy đã khiến ông bị bắt (10.1944) và bị giam mấy tháng. Ra tù, Lưu Hữu Phước vẫn không nhụt chí. Ông cùng Huỳnh Văn Tiểng và Mai Văn Bộ lập nhà xuất bản Hoàng Mai Lưu. “Lên đàng” là bản hành khúc ông viết cho phong trào “Thanh niên Tiền phong”. Khi Sài Gòn khởi nghĩa, ông viết ngay “Khúc khải hoàn”. Khi Nam Bộ kháng chiến, ông và Nguyễn Mỹ Ca thành lập Binh công xưởng Nam Bộ. Vừa sản xuất vũ khí, hai ông vừa sáng tác ca khúc. “Đói lạnh” và “Đoàn quân ma” được viết trong thời kỳ này. Cuối 1945, ông được điều ra Hà Nội. Ở Thủ đô, ông vẫn mở nhà sách Hoàng Mai Lưu II ở số 8 Hàng Ngang. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Lưu Hữu Phước lên Việt Bắc, lãnh đạo “Đoàn nhạc kịch thiếu nhi kháng chiến”. Vở ca kịch “Hái hoa dâng Bác” được Lưu Hữu Phước viết nhân dịp kỷ niệm 60 năm sinh nhật Bác (19.5.1950) và do Đoàn thiếu nhi trình diễn. Ông còn viết “Tuổi hai mươi”, “Lãnh tụ ca”, “Đông Nam Á Châu”.
Khi Đoàn văn công Nhân dân Trung ương thành lập, Lưu Hữu Phước được điều về làm phó đoàn cùng trưởng đoàn Nguyễn Xuân Khoát. Đấy là những ngày ông cùng ban lãnh đạo đoàn kiên trì chí hướng đi theo âm nhạc truyền thống. Vừa cùng anh em sang Berlin tham gia Đại hội Thanh niên sinh viên thế giới lần thứ hai, ông lại cùng anh em đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau đó, là chuyến cùng anh em sang Thượng Hải thu 30 đĩa hát dành cho ngày giải phóng Thủ đô. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ những năm tháng ở Đoàn, đầu 1956, Lưu Hữu Phước chuyển sang làm Trưởng ban nghiên cứu nhạc vũ trong Vụ nghệ thuật thuộc Bộ văn hóa. Vừa cùng anh em nghiên cứu và xuất bản cuốn “Dân ca quan họ”, Lưu Hữu Phước vẫn tiếp tục tuôn chảy mạch hành khúc của mình qua các tác phẩm “Dưới cờ Đảng vẻ vang”, “Cả cuộc đời về ta”. Ông cùng Huỳnh Văn Tiểng và Mai Văn Bộ được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ viết một bài hát là bài “Mặt trận ca” dành cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
“Giải phóng miền Nam” đã được ra đời trong hoàn cảnh ấy, với cái tên ghép ba người: Huỳnh Minh Liêng song do giới thiệu sai nên trở thành Huỳnh Minh Siêng. Đến khi vào miền Nam công tác, Lưu Hữu Phước có cái tên mới là Tư Siêng. Sau “Giải phóng miền Nam”, với biệt danh Long Hưng, Lưu Hữu Phước viết “Bài ca giải phóng quân”, “Giờ hành động” (thơ Thanh Hải) và cùng Hoàng Hiệp (biệt danh là Lưu Nguyễn) viết “Hành khúc giải phóng”. Khi Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, Lưu Hữu Phước lại viết ngay “Sẵn sàng chiến đấu” và “Thanh niên ba sẵn sàng”. Sau đó ông có cuộc hành phương Nam lần thứ hai rất ngoạn mục.
Để vào chiến khu R ở Đông Nam Bộ, Lưu Hữu Phước đã bay từ Hà Nội sang Quảng Châu rồi từ đó bay về PhnômPênh đi xe tới biên giới và sau đấy, đi bộ từ biên giới về R ở miền Nam, Tư Siêng đã có một bước ngoặt mới trong sáng tác với những “Cô gái Củ Chi”, “Tiếng núi sông”, “Xuống đường” rồi “Sài Gòn mến yêu” khi đưa vào nội thành Sài Gòn in trên tờ “Tin Văn” thì đổi tên là “Thanh niên xây dựng non sông” và tên tác giả thì phải mượn tên nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Chính ông cũng vào Sài Gòn để nắm tình hình. Khi đến rạp Quốc Thanh thì bất ngờ gặp bạn cũ là Nguyễn Ngu Ý. Tư Siêng đành vừa tay bắt mặt mừng vừa nhanh chóng rút nhanh ra chiến khu. Những năm tháng ở R, Lưu Hữu Phước cùng Hoàng Việt viết opéra “Bông sen” gửi ra dàn dựng ở Hà Nội vào đúng dịp kỷ niệm 8 năm thành lập mặt trận Dân tộc giải phóng (22.12.1968). Tết Mậu Thân 1968 tổng tiến công, bao nhiêu người lính đã hát vang “Tiến về Sài Gòn” của ông. Khi Bác mất, ông viết “Tình Bác sáng đời ta” với phần lời của Diệp Minh Tuyền.
Từ ngày thống nhất đất nước, Lưu Hữu Phước trở thành Viện trưởng Viện âm nhạc sau khi rời chức Bộ trưởng Bộ văn hóa – Thông tin của chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Ông cùng anh em nghiên cứu và giới thiệu đàn đá Khánh Sơn. Ngày tết Đoan Ngọ năm Kỷ Tỵ 1989, người nhạc sĩ tài tình với nhịp hành khúc Việt Nam đã trút hơi thở cuối cùng tại Sài Gòn, để lại bao tiếc thương cho giới âm nhạc. Năm ấy, ông thọ 69 tuổi ta. Nếu còn sống, năm nay ông tròn 90 tuổi. Ông và Phạm Duy đồng niên, cũng là một tài năng âm nhạc song hành cùng ông.
Nguyễn Thụy Kha (ANVN22/11-2011)
- 10 sự kiện âm nhạc nổi bật năm 2011
- Ca sĩ Dương Quốc Hưng gửi XUÂN ra đảo
- Nhìn lại một năm nhạc Việt: Đa màu sắc và gần hơn với công chúng
- Trường Sơn một thời để nhớ
- Nguyễn Văn Thương - Một tài năng lớn
- Hành trình một vận hội
- Cuộc “phô diễn” ở thánh đường Dương cầm
- Nhà hát Ca múa nhạc VN – Nơi gìn giữ bản đồ âm nhạc và múa dân tộc
- Liên hoan âm nhạc các tỉnh Bắc miền Trung
- Lúc ấy, thời gian có màu xanh
- 70 năm ngày ra đời ca khúc “Cuộc chiến tranh thần thánh”
- Những tín hiệu vui từ lớp Sáng tác trẻ ở Kiên Giang
- Nhà hát Quân đội tại Tp.HCM không ngừng vươn lên
- Nghệ thuật của “Điều còn mãi”
- Vũ khúc trên phím đàn







Album độc tấu guitar mới của Nghệ sĩ Văn Vượng mang tên “Trái tim thắp lửa” gồm 12 tình khúc Việt của nhiều tác giả do chính Văn Vượng tuyển chọn, chuyển soạn và thể hiện.






