19052012

Cập nhật lúc:02:03:32 AM GMT

Back Chuyển động Mục lục: Thời sự âm nhạc Bình chọn ca khúc theo tiêu chuẩn hay...tin nhắn?

Bình chọn ca khúc theo tiêu chuẩn hay...tin nhắn?

  • PDF.

“Thế nào là một ca khúc là hay? Dựa vào tiêu chuẩn nghệ thuật nào để đánh giá, bình chọn một ca khúc?”

Gạt ra bên ngoài yếu tố “fan club”, “nhắn tin bằng nhiều SIM card khác nhau”, câu hỏi trên tưởng chừng đơn giản nhưng thật sự khó tìm được câu trả lời thỏa đáng. Ca khúc là một loại hình nghệ thuật tổng hợp của âm nhạc (giai điệu) và văn học (ca từ). Khi phê bình đến ca khúc của giới trẻ hiện nay, xét về mặt âm nhạc, có nhiều ý kiến khác nhau, kẻ chê người khen; nhưng khi nói đến ca từ, dường như các nhà phê bình đều thống nhất rằng: Hầu hết ca từ của các nhạc sĩ trẻ đều kém giá trị văn học, thậm chí có khi còn thua một bài tập làm văn ở cấp trung học phổ thông. Vậy chúng ta thử đưa ra những tiêu chuẩn nghệ thuật để tìm đến cái hay thật sự của một ca khúc, chứ không phải cái hay theo kiểu “được bà già, trẻ em vỗ tay reo”. Và để gần gũi hơn, trong bài viết này, chúng ta cùng tìm một số ví dụ không chỉ trong các ca khúc đã và đang được phổ biến mà còn trong một hoạt động âm nhạc được nhiều người quan tâm Chương trình Bài hát Việt

TIÊU CHUẨN NGHỆ THUẬT CỦA CA TỪ

Ca từ như một trong hai phần chính của ca khúc. Có thể xem ca từ như là “anh chị em” với thơ ca. Vì vậy, nó vừa phải tuân theo những quy tắc nghệ thuật thi ca vừa phải đáp ứng được những yêu cầu của đời sống âm nhạc trong xã hội đương đại. Điều khó khăn mà người viết ca khúc gặp phải, đó là làm sao dùng ca từ như sự hòa giải giữa cái ảo của thơ và cái hiện thực của đời sống. Muốn vậy ca từ cần phải tránh được những khuyết điểm sau đây:

Lời ca dùng sai ngữ pháp, làm rối nghĩa:

Tình cờ nghe nhà hàng xóm bật nhạc. “Anh bơ vơ giữa dòng người qua, một ai đón nhau trên bờ vai”  (Mưa phi trường - Việt Anh). Đây là một bài hát cũ đã từng được giới trẻ ưa chuộng. Tôi lắng nghe. Cách phát âm “tiếng Việt như Tiếng Anh – tiếng Anh như tiếng Việt” của ca sĩ L.T. góp phần khó hiểu cho ca từ: Nếu đã “một ai” (số ít) thì làm sao “đón nhau” (ít nhất hai người trở lên). Và thế nào là “đón nhau trên bờ vai”? Hiểu được chết liền!

Có một em học trò của tôi dự thi Bài hát Việt, nên tôi tự dưng trở thành một fan bất đắc dĩ để tìm hiểu về sân chơi này. Nghe tin ca khúc Chênh vênh (Lê Cát Trọng Lý) được trao giải Bài hát Việt của năm 2008 (Giải thưởng quan trọng nhất, do 11 vị trong Hội đồng Nghệ thuật bình chọn), tôi vui cho cô gái trẻ, tài năng nên tìm nghe thử ngay. Thú thật nghe “Chênh vênh”, tôi thấy rất ư là “Chạng vạng” (!), “Choáng váng”  với cụm từ lặp lại nhiều lần: “Hôn em, ôm em cho nát chênh vênh / Ừ tình là điên khát say / Hôn em, ôm em sao nát chênh vênh”. Kiểu dùng ngữ pháp kỳ lạ như thế! Hiểu được chết liền!

Nghe tiếp một số bài hát được chọn để biểu diễn trong các chương trình Bài hát Việt của năm 2008, 2009 tôi thấy khá nhiều ví dụ khác về việc dùng ca từ sai ngữ pháp, hoặc loại ngữ pháp lạ lùng với tiếng Việt. Có phải đặc tính “hiểu được….chết liền!” là một tiêu chuẩn về ca từ để một ca khúc được bình chọn?

Dùng từ không chỉnh, hoặc mơ hồ, hoặc không có trong văn chương Việt Nam hoặc với  kiểu triết lý vụn vặt, luẩn quẩn

Trong nhiều ca khúc được phổ biến nhiều trên thị trường âm nhạc trước đây, chúng tôi thấy những ví dụ như:

“Em ra đi xa khuất chân trời. Để cô đơn từng đêm vẫn lên ngôi” Mưa phi trường (Việt Anh)

Thú vị quá! Cho đến bấy giờ tôi mới được học khái niệm “cô đơn lên ngôi” thay vì “tình yêu lên ngôi, cuộc sống lên ngôi”, v.v…

“Đừng dối yêu, từng chiếc hôn hờ hững qua đây” Nụ hồng hờ hững (Nguyễn Nhất Huy)

“Đừng dối yêu”! (Hiểu được….chết liền!)

“Những ai được chết vì yêu là đang sống trong tình yêu/ nhưng đã mất đi người yêu (!?)Ta chẳng còn ai (Đức Trí)

Câu đầu là một triết lý về tình yêu mang tính nhân bản, như đạo lý: “Không có tình yêu nào cao trọng cho bằng tình yêu của người liều mạng sống vì người mình yêu”. Thế nhưng sau nét giai điệu ngừng nghỉ, tác giả lại thêm câu “nhưng đã mất đi người yêu” cho thấy một sự hy sinh có nuối tiếc (!), một sự hy sinh “chẳng đặng đừng”, hoàn toàn mâu thuẫn với tình cảm cao thượng được mô tả trong câu đầu.

Trong đêm ngồi tham dự Bài hát Việt tháng 7/2009 tại Nhà hát Hòa Bình, càng nghe các ca khúc được chọn để trình diễn, tôi càng cảm thấy bi quan cho chính mình, về trí khôn có giới hạn của mình nên bối rối trước rất nhiều ca từ mang đặc tính “hiểu được….chết liền!”. Chẳng hạn, “Hà Nội đẹp như câu thơ nấng nuôi tôi nên người/ để rồi một mai bên tôi hành trang” Trong tôi Hà Nội (Nguyễn Thắng). Và tôi ngộ ra một điều, để được gọi là Bài hát Việt (với tiêu chí: đi tìm cái mới cho ca khúc Việt Nam) thì:

+ chỉ cần làm mới ca từ theo kiểu “nấng nuôi” thay vì “nuôi nấng”

+ hoặc dùng ca từ có tiêu chuẩn: “hiểu được….chết liền!”

Ngắt câu, ngắt chữ không đúng, làm sai lạc ý nghĩa

“Làn môi xinh mềm rũ/ ướp hơi mưa đem về….. Cơn yêu (?) qua rồi còn tiếng/ hát cho em ru đời” Ngồi hát ca bềnh bồng (Quốc Bảo). Những chỗ có gạch chéo ( / ) trên đây cho thấy nơi ngừng nghỉ của giai điệu khiến câu văn cũng được ngắt rời “vô tội vạ”.

“Ngày anh ra đi mang theo trái tim ai/ bao buồn đau bỏ đi rất xa/

quê nhà nơi có những người/hờn ghen đôi ta.” Ta chẳng còn ai (Đức Trí)

Theo cách ngắt câu trên thì, “buồn đau” là tính từ bổ nghĩa cho “trái tim ai” hay sẽ là chủ từ cho “bỏ đi rất xa”?

Dùng từ thô thiển, dung tục, không có tính văn chương

Trong nghệ thuật, cái hiện thực không phải lúc nào cũng là sự việc thật trong đời sống thường ngày. Sự khác biệt giữa một hình tượng nghệ thuật và sự thật trong cuộc sống sẽ quyết định cho tính tự nhiên chủ nghĩa hay tính hình thức chủ nghĩa của một tác phẩm nghệ thuật. Trong một tác phẩm mang tính tự nhiên chủ nghĩa, không có sự khác biệt giữa hình tượng nghệ thuật và sự thật cuộc sống, và lúc đó tác phẩm mang nhiều tính dung tục, thô thiển. Nhưng nếu sự khác biệt ấy quá lớn, tác phẩm ấy xa rời cuộc sống, rỗng tuếch, sáo mòn.

Hiện nay, ca từ của một số người viết ca khúc trẻ thường rơi vào một trong hai trường hợp kể trên. Nếu ca từ không mang những lời lẽ hoa mỹ đến sáo rỗng thì lại mang  tính dung tục, thô thiển của tự nhiên chủ nghĩa. Chắc chắn chúng ta đều thấy để tìm những ví dụ về ca từ thô thiển, dung tục không phải là khó. Cứ vào các trang web nhạc thị trường Việt Nam! 

Lời ca không được gieo vần điệu hoặc gieo vần điệu một cách thô kệch, nực cười

Việc gieo vần cho lời thơ trong ca từ gần như là một yêu cầu nghệ thuật bắt buộc của một ca khúc, dù cho được viết trong ngôn ngữ nào.

 Trong lời ca của “Love me tender” do Elvis Presley viết như:       

“Love me tender, love me sweet. Never let me go

You have made my life complete. And I love you so.”

Như vậy, trong các ca khúc tiếng Việt, việc gieo vần cho lời thơ của ca từ là một điều không thể thiếu nếu muốn đạt tính nghệ thuật. Tuy nhiên, hãy đọc kiểu gieo vần như sau:

“Này sóng hạ và biển xanh hạ. Mây nơi phương lạ. Khóc ngày xa hạ” Ngày xa (Trần Minh Phi)

Bạn thấy sao? May mà câu coda trong ca khúc này được tác giả “có nghề” dệt nhạc; may mà ca khúc này được ca sĩ “có nghề” (Trần Thu Hà) biểu diễn chứ không thì….

Trái ngược lại, hiện tượng viết lời thoải mái, không cần chú ý đến luật gieo vần của thi ca là một việc làm khá phổ biến trong các nhạc sĩ trẻ và ở cả những người đã có nhiều kinh nghiệm viết ca khúc. Hãy đọc ca từ sau đây của ca khúc đoạt giải “Bài hát có phong cách Pop đương đại” năm 2008 của Bài hát Việt: “Em đẹp không cần son phấn, xinh thật xinh thật xinh, rất hiền / không quần jeans giầy cao gót, em chọn riêng mình em áo dài duyên dáng / giống như hoa kia bên thềm ngát hương không khoe sắc màu, ngàn đoá hoa rực rỡ không sánh bằng / em phụ nữ Việt / ánh lên bao rạng ngời người phương Đông” Em trong mắt tôi (Nguyễn Đức Cường). Theo chúng tôi, nếu cho nội dung trên để làm lời hiệu triệu, tuyên truyền, kêu gọi kiểu “gia đình chỉ nên có hai con để nuôi dạy tốt” thì sẽ rất……trữ tình; nhưng nếu chọn làm ca từ thì rất phản cảm. Hiện tượng này không phải đặc thù. Xin nghe thêm bài Gọi tôi Hà Nội (Trịnh Minh Hiển) do Ngọc Khuê trình diễn trong đêm chung kết Bài hát Việt 2008 vào ngày 17/1/2009: “Một cô bé trắng xinh trên tấm ảnh đen trắng cầm cây đàn vui lắm trong hiệu ảnh quốc tế, thật đông. Hà Nội đó với chiếc đồng hồ rất to và khi hai chiếc kim chạm vào nhau là tiếng chuông tàu điện leng keng. Hai mươi năm rồi Hà Nội bồng bềnh trong tôi, nhớ khi đi tàu điện mặc áo bông ăn kem Ô-đê-ca.”  Ca từ thật mới lạ (đúng tiêu chuẩn của Bài hát Việt!) vì cứ mỗi chỗ ngừng nghỉ lại có một vần khác nhau! Lại thêm kiểu nhả chữ đầy ấn tượng của ca sĩ để chúng ta nghe “hiệu ảnh quốc tế” thành “hiệu ảnh cu….té”. Hoan hô những cái mới đầy ấn tượng như vậy! Không dễ gì tìm được kiểu gieo vần thoải mái như vậy trong ca từ của các ca khúc Việt Nam “vang bóng một thời”. Thế mới là mới lạ! Thế mới là đương đại! Thế mới là Bài hát Việt! (cái tên gọi này làm nhiều người hiểu các ca khúc trong chương trình này là những bài hát đại diện cho ca khúc Việt Nam đương đại!?)

Lời và nhạc không phù hợp với dấu giọng tiếng Việt

Đây là một yếu tố khá quan trọng cần phải được để ý khi viết lời cho ca khúc. Thay vì “Anh đã thương em”, nếu dệt nốt nhạc sai cho chữ “đã”, chúng ta có thể nghe thành một ý sai lạc khủng khiếp: “Anh đả thương em”. Chúng ta đã từng hát “Đoàn Giải phóng quân một lần ra đi” như thế nào nhỉ?

TIÊU CHUẨN NGHỆ THUẬT CỦA ÂM NHẠC

Tiêu chuẩn đầu tiên về âm nhạc để đánh giá một ca khúc đó là giai điệu. Một giai điệu cần phải có đặc tính riêng, mang nét sáng tạo riêng biệt của tác giả. Trong tạp chí “Không gian Âm nhạc” của UNESCO số tháng 4/1986, trang 13 có viết: “Giai điệu đẹp thực sự thì không giống giai điệu nào khác”. Trong một lần ngồi chuyện vãn với một vài bạn hữu, nghe một số bài tình ca của các tác giả Việt Nam, chúng tôi hỏi một người quen khi thấy anh đang ngân nga hát theo giai điệu của bài hát đang được phát ra từ máy phát CD: “Anh nghe bài này rồi à?” Anh ta trả lời: “Chưa, đây là lần đầu tiên”. “Thế anh có biết bài này của ai không?” Suy nghĩ một lát anh trả lời: “Cái “e” (air) nhạc này chắc là của TCS! Nghe là đoán được ngay!”. Câu trả lời của anh bạn làm chúng tôi suy nghĩ. Mặc dù TCS là một nhạc sĩ viết ca khúc lừng danh của Việt Nam, với lời ca tuyệt đẹp như “Kinh Thánh của Tình Yêu”, thế nhưng liệu các giai điệu của anh có tính độc đáo sáng tạo không, có tính nghệ thuật cao hay không khi mà chỉ mới nghe, người ta đã nhận ra được tác giả? Những giai điệu như vậy thường xuất phát từ cảm hứng âm nhạc tự nhiên, nên mang tính chủ quan, ít phong phú về âm nhạc và dễ bị trùng lặp.

Hiện tượng ca khúc có giai điệu “giông giống” nhau như vậy rất phổ biến trong các ca khúc viết cho giới trẻ hiện nay, đặc biệt ca khúc về lứa tuổi học sinh, thiếu nhi. Nguyên nhân chính của sự sao chép này, xét về góc độ nghệ thuật âm nhạc, là do những người viết ca khúc “non tay” đã không dùng nhiều kỹ thuật khai triển nhạc đề (development) để có được một giai điệu hay. Nếu chỉ cầm đàn, hay ngồi vào đàn, hay bật máy vi tính (với các phần mềm mang tiết tấu sẵn có) lên để tìm hứng cho giai điệu, để sáng tác, thì không thể tránh khỏi hiện tượng: “giai điệu ở bài thứ 11 nghe giống như giai điệu của bài 1”

Tiết điệu do nhiều nốt nhạc dài ngắn, nhanh chậm khác nhau tạo nên. Nó là yếu tố đầu tiên cấu tạo nên âm nhạc.

Một tác phẩm nghệ thuật được cấu thành do nhiều yếu tố nghệ thuật. Những yếu tố ấy không đứng biệt lập nhưng được liên kết với nhau theo nhiều cách. Mỗi cách liên kết ấy sẽ tạo nên một hình thức mới cho tác phẩm, mặc dù vẫn sử dụng cùng những yếu tố như nhau. Chúng ta xét câu thơ sau:

Uy Linh nổi tiếng thật nơi đây.

Khi đọc câu thơ này lên, chúng ta có thể ngắt chữ theo nhiều cách:

hoặc:         Uy Linh / nổi tiếng / thật nơi đây.

hoặc:         Uy Linh nổi tiếng / thật nơi đây.

Mỗi cách ngắt chữ sẽ làm cho câu thơ có một vẻ dáng, ý nghĩa khác nhau.

Đó là một ví dụ đơn giản về vai trò của tiết tấu, nhịp điệu. Trong âm nhạc  cũng thế. Theo Vincent d’Indy (1831-1931, nhà soạn nhạc, sư phạm người Pháp) thì: “Có nhiều dân tộc không biết đến hòa âm; một vài dân tộc không biết ngay đến cả giai điệu; nhưng không một dân tộc nào lại không biết đến tiết điệu” (“Cours de composition musicale”, trang 20-21, Nxb Durand, Paris). Có nhiều hình thức tiết tấu, tùy theo sự sáng tạo và nhạc cảm của mỗi nhạc sĩ. Trong các loại ca khúc dành cho giới trẻ do các nhạc sĩ Việt Nam sáng tác hiện nay, chúng ta thấy một hiện tượng chung phổ biến; đó là, các tác giả sử dụng một số tiết điệu đã được cài đặt sẵn trong đàn phím điện tử (keyboard) để làm nền cho sáng tác của mình. Có những tên tiết điệu rất mới lạ, rất… vi tính (!), như: “groundbeat, eurobeat, 16 beat pop, 8 beat pop, big ballad, rockabily, chill-out…” nhưng lại được ghi cho những giai điệu có nhóm phân tiết tấu rất phổ thông, không có gì đặc sắc. Nghĩa là với một giai điệu thuộc loại này, chúng ta có thể chơi với tiết điệu phổ thông như disco hay với tiết điệu đặc biệt 16 beat pop đều được. Lẽ ra, một loại tiết điệu được chọn để sáng tác phải có mầm mống tiết tấu của nó nằm sẵn trong giai điệu. Đằng này, chúng tôi có cảm tưởng như, các nhạc sĩ sáng tác cho loại “nhạc trẻ” Việt Nam hiện đại đã làm ngược lại. Họ lấy tiết điệu được ghi sẵn trong đàn keyboard hay synthesizer, rồi dựa trên nền tảng tiết tấu đó, mới chạy tìm giai điệu tương ứng. Cách làm như vậy khiến các ca khúc hiện nay có tiết điệu nghèo nàn, bài nào cũng “na ná” nhau.

Ngoài giai điệu và tiết tấu thì hòa âm, phối khí là những phương tiện khác mà nhạc sĩ sáng tác sử dụng để làm phong phú tác phẩm của mình. Về mặt này, chúng ta phải nhìn nhận rằng, một số tác giả trẻ đã có nhiều cách hòa âm, phối khí khá độc đáo, đặc sắc. Họ biết khai thác có hiệu quả những kiểu hòa âm mới, pha trộn giữa pop và jazz hoặc nhiều loại nhạc khác. Vì thế chúng tôi rất hoan ngênh giải thưởng “Nhạc sĩ tham gia phối khí hiệu quả” của Bài hát Việt.

Th.s. Nguyễn Bách ANVN3 (2009)


Bài liên quan:
Bài mới hơn:
Bài cũ hơn: