19052012

Cập nhật lúc:02:03:32 AM GMT

Back Chuyển động Mục lục: Thời sự âm nhạc 50 năm một chặng đường

50 năm một chặng đường

  • PDF.

Ngày 10/09/1960, khi dàn nhạc giao hưởng biểu diễn chương trình chào mừng ÐH Ðảng tại công viên Bách Thảo- Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến và đứng trên bục cầm đũa chỉ huy bắt nhịp bài  Kết đoàn. Không ít nhạc trưởng, nghệ sĩ soloist và múa từ nhiều nước trên thế giới từng làm việc với Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam (NHNVKVN), vào buổi NHNVKVN nhận Huân chương Lao động hạng Nhất (31.10.2009) đã nhận xét  đây là một trong những Nhà hát sáng giá của Việt Nam, một địa chỉ xếp hạng trong nghệ thuật hàn lâm, nơi tập trung nhiều tên tuổi được thế giới biết đến trong suốt chiều dài 50 năm.

Được hình thành từ  năm 1959, trên cơ sở từ Dàn nhạc Giao hưởng, tiền thân của Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam, tiếp theo là Dàn hợp xướng đã khẳng định sự quan tâm đặc biệt trong việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới cùng với phát huy những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc của Nhà nước ta. Ngoài các chương trình hòa nhạc giao hưởng, hợp xướng còn có sự phối hợp với các ca sĩ và diễn viên múa để thực hiện các vở nhạc kịch, vũ kịch mang phong cách nghệ thuật cổ điển, hàn lâm. Ngay từ thời kỳ đầu, DN Giao hưởng và Dàn hợp xướng đã xây dựng nhiều chương trình hòa nhạc có giá trị nghệ thuật cao, góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những tác phẩm:  Ru con  (Nguyễn Văn Tý),  Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó  (Nguyễn Tài Tuệ),  Du kích sông Thao  (Đỗ Nhuận)..., đặc biệt nhạc kịch  Cô Sao  của Ðỗ Nhuận là tác phẩm nhạc kịch đầu tiên của Việt Nam được dàn dựng công phu, thu hút được đông đảo công chúng. Tiếp đó là các vở nhạc kịch  Núi rừng hãy lên tiếng, Evghenhin Onegine,  Bên bờ Krông Pa,  Người tạc tượng  và các vở vũ kịch  Chị Sứ,  Phá lao  của nhiều tác giả âm nhạc và biên đạo múa người Việt đã tạo tiếng vang trong và ngoài nước.

Rồi, những năm tháng chiến tranh. Các đoàn nghệ thuật xung kích, các nghệ sĩ, cán bộ của nhà hát đã không quản gian khổ hy sinh, đã mang nghệ thuật đến với tuyến lửa Vĩnh Linh hoặc đi dọc đường Trường Sơn đến với bộ đội và đồng bào. Nhiều nghệ sĩ của nhà hát đã được Chính phủ trao tặng Huân chương và nhiều danh hiệu cao quý cho thời kỳ này. Đó là các chỉ huy Dương Quang Thiện, Nguyễn Hữu Hiếu, Trần Quý, Ðỗ Dũng, Trọng Bằng, Nguyễn Hải, đạo diễn Võ Bài, họa sĩ Trần Mậu, biên đạo múa Thái Ly, Ðoàn Long, Hồng Linh, các ca sĩ Quốc Hương, Tân Nhân, Quý Dương, Quang Hưng, Trung Kiên, Ngọc Dậu, Anh Ðào, Thúy Hà, Kim Ðịnh, Bích Liên, Tâm Trừng...

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, hòa trong niềm vui chung của đất nước, Nhà hát được giao nhiệm vụ vào Sài Gòn mới giải phóng biểu diễn chào mừng sự kiện trọng đại của đất nước. Nhiều đêm diễn của Nhà hát đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng công chúng thành phố. Năm 1978, Nhà hát giao hưởng hợp xướng ca, vũ, kịch Việt Nam được đổi tên thành Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam. Từ đó mở ra một giai đoạn phát triển rực rỡ của nhà hát, với nhiều tác phẩm có chất lượng như Nhạc kịch Phidelio  của L.V.Bét-tô-ven,  Tiếng hát xanh  của Nguyễn Ðình Tấn,  Ruồi trâu  của Xpa-da-véc-xki,  Trương Chi  của  Văn Hà được dàn dựng và trình diễn rất thành công. Nhiều vở vũ kịch và nhạc kịch kinh điển nổi tiếng trong kho tàng nghệ thuật thế giới được chuyên gia bạn sang dàn dựng và công diễn thành công như kịch múa Spastac, Giden, Hồ Thiên Nga,  Chàng du đãng và cô tiểu thư, Faxtơ và vở nhạc kịch kinh điển  Madame Butterfly ... những tác phẩm đã làm nên và tỏa sáng tên tuổi & tài năng của nhiều nghệ sĩ như: Kim Quy, Kiều Ngân, Thế Dũng, Lê Vân, Lê An, Thúy Hạnh, Văn Hải, Anh Quân, Minh Thông, Hoàng Hoa, Gia Hội, Gia Khánh...

Và cho đến nay, trước yêu cầu phát triển của nghệ thuật balle  và opera, đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhà hát đã chính thức đổi tên thành Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam (1985) với chức năng biểu diễn loại hình nghệ thuật nhạc kịch và vũ kịch.

Những vở kịch có sức hấp dẫn như: Tiếng hát Trương Chi, Vợ chồng A Phủ  (NSND Ðoàn Long),  Huyền thoại mẹ  (Nguyễn Công Nhạc), Huyền tích Trường Sơn  (Bằng Thịnh)... đã xuất hiện trong giai đoạn này. Và kể từ đó nhiều biên đạo, chỉ huy, nghệ sĩ nước ngoài đã đến Việt Nam làm việc với nhà hát. Sự hợp tác này làm phong phú hơn các chương trình nghệ độ biểu diễn cho tập thể nhà hát. Nhiều tác phẩm xuất sắc đã ra đời , tiêu biểu như  Em, người phụ nữ  Việt Nam, Qua miền đất lạ , Mắt phượng hoàng, Nhạc kịch LuCile, Cuộc sống Paris, Trường học tình yêu, LaBohêm, Giấc mơ và hiện thực,  Người Hà Lan bay, Vũ kịch Romeo và Juliet, Ðiệu múa gió mùa, Kẹp hạt dẻ, Viên đạn thần, Orpher et Eurydiel, Thần Vệ nữ, Franceska Darimimi,  Chim lửa, Trái tim tơ lụa, Mùa Xuân thiêng liêng, La Sylphide, Whocare, Câu chuyện miền Tây ... và nhiều chương trình giao hưởng thính phòng như Carmina Burana, Giao hưởng số 9 ...

Không chỉ thành công với nghệ thuật cổ điển bác học, hòa nhập và kịp bước với trào lưu nghệ thuật múa đương đại thế giới, Nhà hát là một trong những cái nôi tiếp nhận và phát triển múa hiện đại ở Việt Nam. Những năm qua, nhiều nghệ sĩ trẻ của nhà hát đã được cử đi học tập tại Australia, Pháp, Thụy Ðiển, Mỹ... Họ đã góp phần tạo cho múa hiện đại đến gần với công chúng trẻ. Một số tác phẩm múa đương đại đã tỏa sáng bản sắc văn hóa Việt Nam như Hồn Trương Chi,  Nguồn sáng, Trường tương tư, Mùa đom đóm ... Dự án  Nghệ thuật học đường,  Khám phá âm  nhạc và múa  (các nhà sư phạm gọi là Dự án  đào tạo công chúng cho nghệ thuật hàn lâm ) của Nhà hát đã và đang thu  hút hàng chục nghìn học sinh, sinh viên tham dự.

50 năm ấy biết bao nhiêu...tình. Cái tình của Nhà nước và nhân dân dành cho tập thể Nhà hát với những cống hiến lớn lao của họ. Cái tình của tập thể Nhà hát, trong đó sự sáng tạo nghệ thuật không ngừng để làm nên các tác phẩm đặc sắc, làm ngạc nhiên công chúng trong nước và bạn bè quốc tế, mặc cho đời sống vật chất thăng trầm đến mức nào. Với sức sáng tạo và lòng nhiệt tình ấy nhiều nghệ sĩ của Nhà hát đã được nhiều quốc gia trên thế giới mời đến lưu diễn. Và mỗi khi có dịp “đem chuông” là làm nên tiếng vang.

50 năm. Lớp lớp nghệ sĩ đã nối tiếp truyền thống, cống hiến cho sự nghiệp nghệ thuật bằng tất cả tâm, trí, lực. Đã có 5 NSND và 45 nghệ sĩ danh hiệu NSƯT xuất hiện ở đây. Đã có tới 3 Huân chương, thứ tự qua từng thời kỳ, bắt đầu từ hạng Ba (1990), hạng Nhì (1999) và hôm nay là hạng Nhất (2009) của Nhà nước tặng cho tập thể Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam. Và có lẽ hơn cả,  đó là sự kính trọng và mến mộ của công chúng trong và ngoài nước dành cho họ. Họ là một trong những địa chỉ đáng hy vọng của nghệ thuật hàn lâm nước nhà.

Thanh Thủy 
Ảnh: Nguyễn Đình Toán
ANVN5 (11/2009)