Tên gọi này xuất phát từ hình thức diễn giải kinh thánh (oratory) trong nhà thờ Vallicella, nơi ở của Thánh Philip Neri, vào nửa sau thế kỷ XVI. Đây là một kiểu trình diễn vở kịch thánh với phần nhạc đệm.Trong tiếng Ý, từ “oratore” có nghĩa là “diễn giả, người kể chuyện”. Theo thời gian lịch sử, oratorio có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng cách hiểu phổ biến nhất là “một sáng tác thanh nhạc trên chủ đề tôn giáo viết cho lĩnh xướng, hợp xướng và dàn nhạc thường được trình diễn không có trang phục, cảnh trí và động tác diễn xuất”. Opera và oratorio xuất hiện gần như cùng lúc và cùng tại Ý. Tác phẩm“Rappresentazione di anima e di corpo” (Sự đại diện của Linh hồn và Thể xác, 1600) của nhà soạn nhạc Ý Emilio Cavalieri thường được coi là bản oratorio đầu tiên. Nó được viết theo phong cách rất gần với thể loại opera vùng Florence. Lúc ban đầu, rất khó phân biệt thể loại opera với oratorio. Phải đến giữa thế kỷ XVII hai thể loại này mới có những điểm khác nhau đặc trưng.
Trong khi ở Ý, oratorio tiếp tục là một thể loại mẫu mực của âm nhạc Công giáo thế kỷ XVII thì tại Đức, một hình thức oratorio đặc biệt được ra đời như kết quả của phong trào cải cách tôn giáo của người Tin Lành. Nó được gọi là Passion Oratorio, hay Passion Music. Ở hình thức này người chú trọng đến các phần hợp xướng và phát triển chúng đến đỉnh cao nghệ thuật qua các tác phẩm choral của J.S.Bach. Tác phẩm “Historia der frưhlichen und siegreichen Auferstehung” (Câu chuyện về sự Phục sinh vui mừng và chiến thắng) của nhà soạn nhạc Đức Schütz được xem là khởi điểm cho thể loại passion oratorio sau này. Ở J.S. Bach, thể loại oratorio mang một hình thức khác với Händel và các tác giả sau đó. Bach dùng từ “oratorium” để gọi một bộ gồm 6 bản cantata cho mùa Giáng sinh, “Christmas Oratorio” (Oratorio Giáng sinh, 1645), hay bản cantata Phục sinh “Kommt, eilet, lauftet” (Hãy chạy nhanh đến)
Ở Pháp, oratorio được phát triển một cách rời rạc. Vào nửa sau thế kỷ XVII, nhà soạn nhạc M. A. Charpentier đã viết một loạt các “Histoires sacrées” (Truyện thánh) nhưng thật ra chỉ là những mô phỏng lại các tác phẩm của thầy mình, nhà soạn nhạc Carissimi.
Sự phát triển đặc biệt phong phú của thể loại oratorio hòa tấu được diễn ra tại Anh gắn liền với sự nghiệp của nhà soạn nhạc George Friedrich Händel, người Đức nhưng lại sống và thành đạt ở Anh. Thật ra, ông là nhạc sĩ viết opera theo phong cách Ý và có ảnh hưởng khá lớn đến âm nhạc opera nửa đầu thế kỷ XVIII. Lúc đầu Händel dùng các sáng tác oratorio chỉ như công cụ giúp cho các ca sĩ của ông có việc làm và duy trì hoạt động của nhà hát opera trong thời gian buồn tẻ của Mùa Chay, khi mà khán giả thường xa rời không khí vui vẻ, ồn ào của những đêm diễn opera. Ông thấy rằng, nếu thay thế opera bằng các bản oratorio mang đề tài tôn giáo, chỉ khác opera ở chỗ không có trang phục, động tác diễn, cảnh trí thì có thể lôi kéo khán giả mà không phạm đến thói quen và tâm tình tôn giáo đặc biệt của họ trong mùa Chay. Và, ông đã thành công ngoài sự mong đợi. Éo le thay, mặc dù oratorio chỉ là một sản phẩm phụ của Händel, một nhạc sĩ chuyên về opera, nhưng thể loại mới này lại làm cho danh tiếng ông lẫy lừng trong giới yêu nhạc thời đó và cả đến nhiều thế kỷ sau. Chính các oratorio của Händel đã làm lu mờ những vở opera và cả những tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác của ông. Trong oratorio, tuy có nhiều kiểu aria mới được sáng tạo, nhưng phần hợp xướng vẫn giữ vai trò quan trọng hơn. Qua thể loại này, ông cho thấy mình nắm vững đến mức hoàn hảo nghệ thuật dàn nhạc và thanh nhạc trong opera. Các aria và recitative trong oratorio của ông ông rất phong phú, kiều diễm, tiết tấu đa dạng. Thể loại thanh nhạc anthem của Anh đã gợi ý cho Händel viết nên những bản hợp xướng hoành tráng, đồ sộ trong các oratorio của mình.
Tuy Händel đã có nhiều cải cách quan trọng và đưa thể loại oratorio đến một phong cách đặc thù Anh cũng như sáng tạo nên phong cách anh hùng, đồ sộ, hoành tráng trong oratorio nhưng chính nhà soạn nhạc người Đức (Áo) Joseph Haydn mới là người đưa thể loại này đến đỉnh cao, đến nỗi nó được coi như là tài sản riêng của nền âm nhạc Anh. Thật là một sự trùng hợp thú vị khi hai người kế tục Händel về thể loại oratorio đều thành công tại Anh nhưng lại là người Đức, Áo. Đó là Haydn với oratorio Cổ điển và Mendelssohn với oratorio Lãng mạn. Các oratorio thành công nhất của Haydn là “The Creation” (Sáng thế)“The Seasons” (Các Mùa). Một số oratorio lừng danh của Mendelssohn như: “St. Paul” (Thánh Phao-lô, 1836), “Elijah” (Tiên tri Elijah, 1846).
Nghiên cứu hình thức của các oratorio thời kỳ Baroque (với Händel), thời Cổ điển (với Haydn) và thời kỳ Lãng mạn (với Mendelssohn) chúng ta không thấy có thay đổi gì đáng kể, tất cả đều trung thành với sáng tạo ban đầu của Händel. Thể loại hợp xướng với bút pháp phức điệu và các đoạn fuga đều giống nhau. Các bản aria nhìn chung chỉ thay đổi đôi chút về tuyến giai điệu và có nhiều vẻ hoa mỹ hơn, Đến lúc này oratorio được biểu diễn ở các buổi hòa nhạc bên ngoài nhà thờ nhiều hơn với thành phần dàn nhạc phong phú hơn, Người ta có thể loại oratorio hòa tấu (concert oratorio). Từ thời kỳ âm nhạc Lãng mạn trở đi, oratorio ngày càng có chủ đề khác ngoài tôn giáo, thường là đề tài lịch sử, anh hùng và nhân bản. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, một nhà soạn nhạc nổi tiếng của Việt Nam đã viết oratorio “Gửi nhân dân toàn thế giới” với lời Nga của Petros Anteos. Oratorio này đã được công diễn rất thành công tại Nga.
Th. s Nguyễn Bách ANVN4 (10/2009)
- Nhạc trưởng (conductor)
- Bàn về Âm nhạc tuyệt đối
- Đôi nét về lệ thức thánh ca
- Chiếc đũa chỉ huy
- Thể loại Sonate và hình thức Sonate
- Mong một ngày giỗ tổ tân nhạc
- Hình thức âm nhạc
- Tính dân tộc và hiện đại trong âm nhạc nước ta hiện nay
- Mỹ học âm nhạc: Điệu tính (Tonality)
- Dòng sông và tiếng hát (phần 1)







Album độc tấu guitar mới của Nghệ sĩ Văn Vượng mang tên “Trái tim thắp lửa” gồm 12 tình khúc Việt của nhiều tác giả do chính Văn Vượng tuyển chọn, chuyển soạn và thể hiện.






