Cũng là bản “Hạ Trắng” (Trịnh Công Sơn) nhưng khi nghe ban nhạc ngày nay chơi chúng ta thấy khác nhiều so với các ban nhạc ở những năm 1970 (sinh động hơn, tốc độ nhanh hơn, phối khí nhiều màu sắc hơn, v.v…). Khi nghe ca sĩ, NSƯT Tạ Minh Tâm hát những tình ca đỏ trong các Album-CD gần đây của anh, chúng ta thấy hấp dẫn hơn, nghệ thuật hơn so với những bản thu âm vào thời những ca khúc này ra đời.
Như vậy rõ ràng yếu tố thời gian, hay nói rộng hơn, yếu tố lịch sử ảnh hưởng nhiều đến nghệ thuật trình diễn một tác phẩm âm nhạc. Môn học “Thưởng thức âm nhạc” luôn có phần giới thiệu về các thời kỳ âm nhạc và những đặc điểm âm nhạc của từng thời kỳ. Chúng ta cần biết để hiểu và thưởng thức một tác phẩm âm nhạc đúng cách.
Khi phân chia các giai đoạn lịch sử âm nhạc, các nhà lý luận âm nhạc Âu châu thường dựa trên cơ sở thời gian, niên đại như các nhà Khảo cổ và các nhà Nghiên cứu lịch sử thường làm. Và cái gọi là “Lịch sử Âm nhạc Thế giới” theo truyền thống thật ra chỉ đa phần là quá trình phát triển của nền âm nhạc kinh điển Tây Âu. Lịch sử âm nhạc được các nhà lý luận Tây Âu phân chia như sau: Âm nhạc thời Nguyên thủy; Âm nhạc thời kỳ Cổ đại (trước Tk. V); Âm nhạc thời kỳ Trung cổ, còn gọi là âm nhạc Gothic (Tk. V đến XIV); Âm nhạc thời kỳ Phục hưng (Tk. XV và XVI); Âm nhạc thời kỳ Baroque, còn gọi là âm nhạc Tiền Classic (pre-classical, 1600 - 1750); Âm nhạc Kinh điển (Classic, 1750 - 1820); Âm nhạc thời kỳ Lãng mạn (1820 - 1880); Âm nhạc thời kỳ Hậu Lãng mạn (1880 – 1918); Âm nhạc thời kỳ Hiện đại (hay Âm nhạc Tk. XX, từ 1918 đến cuối thế kỷ này); Âm nhạc Đương đại (từ đầu Tk XXI đến nay).
Trong thực tế âm nhạc tiến hóa từng bước dần dần, không thay đổi rõ nét, không có một ranh giới thời gian cụ thể. Mặc dù có vài quan niệm khác nhau về niên đại và những bước chuyển tiếp, các nhà lý luận cũng đã đồng ý cách sắp xếp chung về các giai đoạn phát triển âm nhạc như trên.
Bên cạnh cách phân chia theo niên đại, người ta còn dựa trên cơ sở cách thể hiện âm nhạc để chia ra các giai đoạn. Chúng ta có: Thời kỳ Cổ đại (trước Tk. V); Thời kỳ Đơn âm (Monophonic, từ năm 200 đến 800); Thời kỳ Đa âm (Polyphonic, từ năm 800 đến 1600); Thời kỳ Baroque (hay Pre-classic, từ năm 1600 đến 1750); Thời kỳ Kinh điển (Classic, 1750 – 1820); Thời kỳ Lãng mạn (Romantic, từ năm 1820 – 1900); Thời kỳ Hiện đại (Modern, Tk. XX); Thời kỳ Đương đại (Contemporary, cuối Tk. XX đến nay).
Âm nhạc thời kỳ Nguyên thủy (Primitive)
Còn được gọi là âm nhạc thời Tiền sử (prehistoric). Đó là nền âm nhạc từ khi con người chưa có chữ viết, cuối lịch sử địa chất. Âm nhạc nguyên thủy bao gồm tất cả các nền âm nhạc trên thế giới tồn tại trước khi có bất cứ một nền âm nhạc nào đã được định hình. Chẳng hạn nền âm nhạc của thổ dân châu Mỹ hay của thổ dân Úc. Trong nền âm nhạc này có những yếu tố liên quan đến nguồn gốc của âm nhạc. Thời kỳ âm nhạc nguyên thủy chấm dứt khi con người tìm ra chữ viết. Vì lý do đó, người ta còn gọi giai đoạn này là âm nhạc thời tiền sử. Tiếp ngay sau thời kỳ này là giai đoạn của nền âm nhạc cổ đại.
Âm nhạc thời kỳ Cổ đại (Antiquity)
Mặc dù rõ ràng rằng âm nhạc là một đặc trưng của xã hội loài người từ nhiều ngàn năm nhưng người ta biết rất ít về lịch sử của nó trong thời Cổ đại. Phải đến khi các nền văn minh cổ phát triển, con người mới dùng hình ảnh, chữ viết ghi lại cách sử dụng nhạc cụ. Trong giai đoạn này, âm nhạc được phổ cập chủ yếu bằng truyền khẩu. Trong những thế kỷ cuối của giai đoạn này, các truyền thống âm nhạc chính quy được ấp ủ nuôi dưỡng trong các tu viện Công giáo, và nhà thờ đóng vai trò chính trong sự phát triển tiếp theo của âm nhạc. Lúc này một thể loại thanh nhạc không có phần đệm đàn và chỉ hát một bè với bản văn La-tinh, gọi là Gregorian Chant hay Bình ca. Các sáng tác thanh nhạc của thể loại này được viết trong 8 điệu thức căn bản gọi là Mode.
Âm nhạc thời kỳ Trung cổ (Medieval)
Ở giai đoạn này có một phát minh quan trọng cho phép lưu lại được tác phẩm âm nhạc dưới dạng vật lý. Đó là cách ký âm tiêu chuẩn ra đời vào Tk. XI. Giờ đây các giao tiếp âm nhạc có thể được thực hiện một cách hiệu quả và các thế hệ sau có thể biết đôi chút về âm nhạc của tiền nhân.
Nhạc Bình ca lúc này vẫn không có phần đệm đàn nhưng bắt đầu xuất hiện những cách diễn đạt mới. Lối hát mang tên organum ra đời với kiểu thay đổi giữa 2 bè các ca sĩ solo và dàn đồng ca, hoặc hai bè cùng vang lên một lúc. Trong thời kỳ organum đầu, hai bè luôn song song một quãng 5, hay quãng 8 hay quãng 4. Dần dần bè hát đệm trở nên độc lập với bè giaiđiệu, mở đầu cho việc ra đời của hòa âm. Bên ngoài hệ thống tu viện còn có lớp nghệ sĩ hát rong (Minnesinger, troubadour, trouvère) đi giúp vui cho các lâu đài ở Âu châu.
Âm nhạc thời kỳ Phục hưng (Renaissance)
Đây là giai đoạn có những biến đổi nhanh chóng trong các loại hình nghệ thuật. Khắp châu Âu ấp ủ nhiều trường phái tư duy mới. Khuynh hướng tự do trong diễn cảm. Tuy ảnh hưởng của âm nhạc nhà thờ còn rất mạnh nhưng đã có những cải cách trong cấu trúc hình thức và thể loại âm nhạc. Bộ Lễ (missa), motet không còn là sản phẩm riêng của âm nhạc nhà thờ mà đã có những bản văn thế tục cùng phát triển mạnh với madrigal. Các thể loại âm nhạc trở nên phức tạp hơn với nhiều bè dành cho các nhạc cụ khác nhau dẫn đến việc phát triển thành hòa âm sau này.
Âm nhạc thời Phục Hưng không chia thành nhịp phách như ngày nay mà thường chỉ nhấn vào các vần mạnh của các từ ngữ quan trọng. Đây là một nét đặc biệt nổi bật của âm nhạc Phục Hưng với dáng vẻ uyển chuyển, lưu loát của dạng ca làm cho chúng vẫn có giá trị và vẻ đẹp đặc biệt.
Âm nhạc thời kỳ Baroque (preclassic)
Thời kỳ Baroque trong âm nhạc được tính từ năm 1600 đến 1750, năm mất của nhà soạn nhạc vĩ đại J.S.Bach. Trong nghệ thuật, phong cách baroque mang tính hoành tráng. Trong âm nhạc, phong cách này được thể hiện ở cấu trúc tác phẩm nhiều chương, quy mô. Đây là lúc ra đời của nhịp, phách. Các tác phẩm baroque thường được bắt đầu bằng một phách lấy đà theo sau một dấu lặng tạo nên cảm giác nối tiếp từ một tác phẩm khác. Đầu thời kỳ Baroque đã có sự thay đổi từ kỹ thuật viết nhiều dạng ca tương phản nhưng biệt lập sang kỹ thuật sử dụng một dạng ca duy nhất, phụ đệm bằng những hợp âm. Sự thay đổi từ bút pháp đa âm sang hòa âm như vậy đòi hỏi phải có một hệ thống thang âm (điệu thức) mới, dẫn đến việc thay thế hệ thống mode của Nhà thờ Cơng giáo Trung đại (Middle Age) bằng hệ thống âm thức trưởng – thứ.
Nhìn chung, đến thời kỳ Baroque, lần đầu tiên trong lịch sử âm nhạc cĩ hiện tượng khí nhạc dần chiếm địa vị ngang hàng với thanh nhạc, nhờ đó, thúc đẩy việc chế tạo các nhạc khí mới và cải tiến các loại nhạc khí cũ. Càng ngày càng nhiều tác phẩm được viết riêng cho nhạc khí hơn. Do đó, cần phải trình diễn âm nhạc Baroque thật chính xác về tiết điệu. Ca sĩ thường phải hát những tác phẩm mà trong đó giọng người được sử dụng như nhạc khí (đặc biệt trong các tác phẩm của J.S.Bach, G.F.Händel).
Âm nhạc thời kỳ Cổ điển hay Kinh điển? (Classic)
Trong âm nhạc Tây Âu, thuật ngữ “thời kỳ classical” để chỉ một giai đoạn từ 1750 đến 1820. Tuy nhiên thuật ngữ “âm nhạc classical” lại thường được dùng để mô tả nhiều thể loại âm nhạc phương Tây từ Tk. XIX đến tận ngày nay. Chúng ta hay gọi thời kỳ âm nhạc này là “thời Cổ điển” với hàm nghĩa “xưa, cổ”. Điều đó thật ra có phần không chính xác. Từ “classical” có gốc từ “class” (mang nghĩa lớp, loại). Đây là thời kỳ mà âm nhạc có được những thể loại được định hình rõ như: sonata, concerto, symphony,… Vì vậy, theo chúng tôi nên dùng thuật ngữ “Kinh điển” cho các khái niệm liên quan đến âm nhạc classical.
Điểm nổi bật nhất của thời kỳ này là sự ra đời của trường phái Kinh điển thành Vienne với các nhà soạn nhạc lừng danh: Gluck, Haydn, Mozart và Beethoven. Nghệ thuật thời kỳ Kinh điển nhằm tạo sự trangnhã, cân đối, tinh tế. Nhiều hình thức, thể loại được định hình trong thời gian này với cấu trúc mạch lạc, cân đối, chất liệu chủ đề rõ ràng. Các tác giả Kinh điển phát triển nhiều thể loại sonate-symphony, hình thức sonate và liên khúc sonate được hoàn chỉnh về mặt cấu trúc. Họ phát triển chủ yếu những thề loại lớn nhưng bên cạnh đó vẫn có sự xuất hiện của nhiều thể loại âm nhạc thính phòng mới như: Khí nhạc chiếm ưu thế hơn, phổ biến hơn các thể loại thanh nhạc.
Có rất nhiều những nhà soạn nhạc nổi tiếng của thời kỳ này còn ảnh hưởng cho đến những thời kỳ sau và cho tới ngày nay. Trong số đó, Beethoven được coi là đỉnh cao của thời kỳ Kinh điển để chuyển tiếp sang thời kỳ Lãng mạn. Âm nhạc thời kỳ Kinh điển được phân biệt với âm nhạc Baroque qua tính rõ ràng về thể loại, không có dáng dấp nặng nề và phức tạp của Baroque. Nó được phân biệt với âm nhạc Lãng mạn bởi đặc tính chế ngự cảm xúc và tính quy củ, cân đối về hình thức.
Âm nhạc thời kỳ Lãng mạn (Romantic)
Từ những nền tảng đã có từ trong giai đoạn Kinh điển, các nhà soạn nhạc ngày càng chú trọng diễn tả cảm xúc của mình qua tác phẩm. Họ dùng tác phẩm để làm thỏa mãn những cảm xúc, tình cảm riêng tư.
Khuynh hướng đáng chú ý đầu tiên là các nhà soạn nhạc quay về phục hồi, nâng cao 7 điệu thức Trung cổ kết hợp với việc khai thác các điệu thức dân gian, khác với thời kỳ Kinh điển chủ yếu chỉ sử dụng hệ thống điệu thức Trưởng – thứ. Ngoài ra, tính dân tộc là một thuộc tính có thể gắn liền với âm nhạc Lãng mạn. Các tác giả đã sử dụng rất nhiều dân ca, dân vũ, các thể loại và đặc điểm âm nhạc dân gian. Có thểđây là kết qủa của việc phát sinh nhiều nền âm nhạc mới như: Nga, Ba-Lan, Tiệp Khắc, Na-Uy. Bên cạnh đó, âm nhạc Lãng mạn chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Lãng mạn.
Âm nhạc thời kỳ Hậu Lãng mạn (Late Romantic)
Còn được gọi là thời kỳ âm nhạc Cận đại. Trong khoảng thời gian này (1880 - 1918) một đợt sóng gồm các nhà soạn nhạc thuộc thế hệ cuối thời kỳ Lãng mạn, thường có khuynh hướng xây dựng các tác phẩm phức tạp hơn, dài hơn và mang nhiều yếu tố dân tộc của mình hơn.
Một đặc điểm của thời kỳ này là sự ra đời của các nhạc viện, các đại học có chuyên ngành âm nhạc đã tạo nên những trung tâmcho các nhà soạn nhạc tiếp tục truyền dạy một cách quy củ những kiến thức, chuyên môn của mình hơn là để thế hệ sau chỉ dựa vào tài năng bẩm sinh. Âm nhạc Hậu Lãng mạn không chỉ chịu ảnh hưởng của văn học mà còn nhiều nghệ thuật khác như hội hoạ vào âm nhạc. Đó là trường hợp của trường phái Ấn tượng (impres-sionism) với Moussorgsky (tác phẩm “Những bức tranh trong phòng triển lãm”), Debussy (“Images pour piano” - Những bức tranh cho piano, 1904–1905).
Âm nhạc thời kỳ Hiện đại (Modern) hay Âm nhạc Tk. XX?
Ở một số tài liệu vẫn xem nền âm nhạc thế giới sau thời kỳ Lãng mạn là Thời kỳ Âm nhạc Hiện đại (Modern music). Theo chúng tôi, khái niệm chỉ thực sự đúng vào trước năm 2000. Hiện nay chúng ta đang ở trong Tk. XXI, thì không thể gọi âm nhạc Tk.XX là nền âm nhạc hiện đại được. Âm nhạc Tk.XX là một lãnh vực rất phong phú, biến đổi đa dạng, không có một thể loại nào thống trị, không một nhà âm nhạc học nào có thể nói là nắm vững mọi khiá cạnh. Bắt đầu từ những đặc điểm của âm nhạc Hậu Lãng mạn (với các nhà soạn nhạc như Gustav Mahler, Jean Sibelius,…), âm nhạc Tk. XX được bắt đầu với sự ra đời của trường phái Ấn tượng (Impressionism) với hai đại diện nổi bật là Claude Debussy và Maurice Ravel. Cả hai đều là người Pháp.
Nhiều nhà soạn nhạc chống lại các phong cách cuối thời Hậu Lãng mạn và Ấn tượng để chuyển nhanh sang nhiều hướng khác nhau. Ở Vienne, Arnold Schoenberg phát triển âm nhạc vô âm thể (atonality) và phát triển kỹ thuật thang âm 12 âm bậc sau này với hai nhà soạn nhạc kế thừa lừng danh, đều cùng là người Áo, Alban Berg và Anton Webern. Sau Thế Chiến thứ Nhất, nhiều nhà soạn nhạc bắt đầu quay về những thế kỷ trước để tìm nguồn cảm hứng. Điều đó dẫn đến sự ra đời của trường phái Tân Kinh điển (Neoclassicism) với các nhà soạn nhạc tên tuổi như Igor Stravinsky, Sergei Prokofiev, Ravel, Paul Hindemith.
Từ đầu thập kỷ 50, John Cage đã giới thiệu những yếu tố ngẫu nhiên trong âm nhạc của mình, từ đó sinh ra những loại âm nhạc ngẫu nhiên (chance muisc), âm nhạc ứng tác tự do (fee improvisation music), âm nhạc trực giác (intuitive music), âm nhạc quy trình (process music), rồi đến âm nhạc thử nghiệm (experimental music). Trong một phần tư cuối của thế kỷ này, người ta thiên về loại âm nhạc đa phong cách (polystylism), âm nhạc phổ thông (popular music) và những loại âm nhạc điện tử, loại âm nhạc liên quan đến truyền thống (phim, phòng thu, radio, TV).
Nguyễn Bách SN32 (09/2010)
- Những khuynh hướng tiêu biểu trong nghệ thuật guitar thế kỷ XX
- Sự phát triển mang tính chuyên nghiệp trong đào tạo các chuyên ngành kèn dăm kép
- Đàn Piano trong việc phát triển tư duy âm nhạc và cảm thụ nghệ thuật
- Nghiệp dư nhưng rất chuyên nghiệp
- Angklung - nhạc cụ dân tộc truyền thống của Indonesia
- Đàn piano xuất hiện tại Việt Nam bao giờ?
- Tân nhạc & sự đóng góp của nó trong sân khấu cải lương (phần 2)
- Thử tìm một phương hướng để biên soạn "hòa âm" cho một ca khúc đậm nét Việt Nam
- Heavy metal và Symphonic: Sự cộng hưởng tuyệt vời!
- Dòng nhạc Fado – di sản nghệ thuật Bồ Đào Nha
- Tango - Điệu nhảy mê đắm của những đôi tình nhân
- Rock Việt
- Bàn về Âm nhạc tuyệt đối: Daniel K. L. Chua
- Jazz - tiếng nói về quyền con người
- Nhạc trưởng (conductor)







Album độc tấu guitar mới của Nghệ sĩ Văn Vượng mang tên “Trái tim thắp lửa” gồm 12 tình khúc Việt của nhiều tác giả do chính Văn Vượng tuyển chọn, chuyển soạn và thể hiện.






