Bạn tôi – nhà thơ Đỗ Nam Cao đã tạ thế tại Sài Gòn vào hồi 10 giờ 45 phút ngày 8.11.2011 sau ít tháng chống chọi với bạo bệnh. Vậy là lại thêm một người bạn thiết ra đi, khi mùa đông Hà Nội vừa tới. Mới ngày nào đó, Lâm râu. Mới mấy thàng trước, Hoài Anh…Chuyến bay đêm chật người mang tôi vào Sài Gòn trong tâm trạng rỗng không.
Chính khi chân tôi cùng ban bè chạm con ngõ 12B Nguyễn Thị Huỳnh để đến thắp hương cho Đỗ Nam Cao tại tư gia. Tất cả kỷ niệm của 30 năm trước như con lũ lớn ập vào tôi chuếnh choáng.
Ngày ấy, cũng vào mùa đông 1981, nhà thơ Trần Vũ Mai dắt lên căn gác nhà 60 Hàng Bông của tôi một người bạn và giới thiệu: “Ê Kha! Đây là Đỗ Nam Cao, bạn thiết của tao. Thơ đầy gai góc”. Tôi nhìn Cao lạ lẫm. Tóc bồng bềnh. Mặt hiền tươi. Thế là cụng ly. Ngà ngà Cao đọc: “Chỉ có người chết rồi mới lấp vùi như thế - những người chết thì không thể đội ngược đất lên”. Hay. Một câu thơ rất riêng. Tôi nhận định, còn Cao thì cười mủm mỉm. Cuộc rượu khá khuya. Ngày ấy, đất nước vừa liền một dải mới vài năm. Nhưng trong lòng nhiều người dấn thân và dân hiến một thời chiến đấu, tự nhiên có những rạn vỡ không thể gọi thành tên. Chúng tôi rót buồn cho nhau, cố lý giải về những gì mình đã tin theo, mình đã trải qua. Và hơn hết, cụm lại với nhau thành bạn bè, chia sẻ. Cụm lại là để làm mạnh nhau, để nương tựa nhau vượt qua những trái ngang mà Trần Vũ Mai từng tổng kết: “Người trung thực vốn chịu nhiều thua thiệt”. Tổng kết được vậy nhưng Mai vẫn không sao cưỡng được. Rạn vỡ đã nứt ra thành lỗ huyệt cho Mai vào Nguyên Tiêu 1991. Vậy là tôi và Cao mất Mai.
Vậy là ba thằng chỉ còn tôi và Cao. Tôi thì vừa phục viên được một năm. Lòng cũng đầy tan nát. Buồn, tôi trở lại Sài Gòn làm báo và để gần Cao. Ngày nào cũng ngồi. Ngày nào cũng nhớ Mai. Chẳng thương tôi gì cả, Cao lại quất vào tôi một câu thơ về Trường Sa: “Điều khốn nạn là chỉ khi máu đổ - Đảo mới gần mới thật đảo của ta”. Cao ơi! Đau quá. Đau thế chịu sao thấu. Chúng tôi cứ lặng sống, cứ ngơ ngác giữa mất mát, giữa tồn vong như vậy. Rồi đến lúc chính bi kịch đã đập tung cánh cửa nhà lao. Nuốt đau vào người, Cao cứ thế nhiều năm Hà Nội – Sài Gòn với chiếc xà -cột thắt khăn mặt vào dây đeo, đi vái tứ phương mong người bạn đời - một nữ tù nhân Côn Đảo, một biệt động Đà Nẵng ngày nào – thoát khỏi kiếp nạn của thời kì đầu kinh tế thị trường. Cắn răng và lặng lẽ, vậy mà vài năm sau, Cao ném cho tôi tập thơ có cái tên rất kỳ khôi: “Dính”. “Dính” quả thật là một tập thơ hay và lạ. “Dính” là nơi chứa chất xô lệch bao số phận, là nơi dồn nén bao quặn thắt trần ai, là những mảnh vỡ ghép lại nham nhở một vỉa hè va vấp của dân đen. “Dính” cứ thế âm thầm dính vào bạn bè, vào những người yêu thơ đích thực.
Thế kỷ mới đưa lửa thanh xuân thời chống Mỹ chúng tôi vượt qua “ngũ thập tri thiên mệnh”. Công lý đã mỉm cười phần nào với gia đình Cao. Cao lại lặng lẽ lao vào thơ như để trả nghĩa cho quê hương sinh thành, cho đồng bằng châu thổ Bắc đa đoan và lãng mạn. Mất đến tròn thập kỷ, Cao mới hoàn thành xong trường ca bằng thơ lục bát mang tên “Hỡi cô cắt cỏ”. Đầu xuân 2011, trường ca đã in trên tạp chí “Văn hiến”. Đọc xong, tôi gọi cho Cao: “Cao ơi! Mày xong việc rồi. Không thể hay hơn được nữa”. Cao cười rinh rích và đọc câu thơ kết: “Mẹ còn ăn bát riêu cua – thì thừa sữa lạ nuôi vua muôn đời”. Câu thơ hay vì vừa bình dị, vừa ngạo nghễ một tinh thần dân Việt bá nhỏ và đau khổ. Để hoàn thành được thi phẩm như thế, vài năm nay, Cao có thêm những chia sẻ mới từ bạn cũ và bạn mới. Chúng tôi vẫn đùa nhau rằng: “Thiệt là một lũ giặc già”. Thăng hoa với “Hỡi cô cắt cỏ”, Cao quyết định mở một đột phá mới vào miền đất Quảng quê vợ. Vậy là những chuyến ra với sông Hàn, sông Hoài, sông Thu, với những Mỹ Sơn, Trường Lũy cứ lôi cuốn bước chân lãng du của chàng thi sĩ thường tủm tỉm nhấm nháp những hơi men cùng cảnh trí. Sự lôi cuốn mới mẻ đó đã khiến Cao quá sức. Vài tháng nay, nghe tin Cao đau bệnh, lòng tôi buồn trĩu. Mưu sinh đời thường khiến cho con người không có lúc ngẩng mặt. Càng cưỡng lại số phận, càng cô đơn. Không còn cái nhịp điệu một tuần gọi nhau một lần hỏi thăm bình thường nữa. Cao cúp máy, chấp nhận cô đơn chống chọi lại bạo bệnh. Xong cuộc chống chọi cũng chỉ như Hòa Vang, Trịnh Thanh Sơn đã từng chống chọi. Đành chấp nhận câu “chỉ chữa được bệnh, chứ ai chữa được mệnh”.
Sáng 6.11, khi tôi đang chuẩn bị đi dự Đại hội tộc Mạc ở Bảo tàng Hồ Chí Minh, thì nghe chuông điện thoại réo. Ca sĩ Tiến Dũng - thằng em thương mến của chúng tôi vừa nói vừa mếu máo: “Anh Kha ơi! Em đang hát cho anh Cao nghe Sông Lô chiều cuối năm đây. Thương quá. Chẳng lẽ đã chiều rồi sao”. Linh tính cho tôi bit có gì không ổn. Nhưng hy vọng thì vẫn phải hy vọng. Nhưng…
Thắp hương cho Cao xong, chúng tôi tụ lại ở cơ quan Lê Quân để bồi hồi ôn lại những kỷ niệm rơm rớm của bao ngày cũ. Không thể nào ngăn được xót thương. Nhất là khi Lưu Trọng Văn đọc lên những câu thơ cuối cùng và là bài thơ đầu tiên mà Cao viết vào số phận mình chứ không phải viết ra giấy:
Có không cái cõi vĩnh hằng
Có cô cắt cỏ có trăng lưỡi liềm
Có không cái cõi thần tiên
Rượu ngon lại uống bạn hiền lại chơi
Chỉ còn sờ sợ chút thôi
Có thơ không để tôi rơi xuống trần
Cao ơi! Sờ sợ cho vui thôi chứ sợ gì. Sẽ vẫn những mừng tủi xuyên cả hai cõi bởi những câu thơ như thế thì mãi dính chặt vào đời. Không bao giờ mất được dù phải vĩnh biệt Cao.
Nguyễn Thụy Kha (11/2011)
- Nghệ sĩ Tuyết Loan kỷ niệm 48 năm ca hát
- Nghệ sĩ Minh Hoàng: Chuyện không phải dễ
- Đệ nhất khẩu cầm Việt Nam – Tòng Sơn
- Cẩm
- NSƯT Đình Chiểu - Người mang hồn nắng ấm quê hương
- Nhớ tiếng hát Mai Khanh
- Trịnh Đan Nhi – Tài năng violon nhí đất cảng
- Phạm Hoàng Long - Người trẻ làm giao hưởng về Bác
- NSND Quý Dương còn mãi với thời gian
- Còn đó… tiếng hát át tiếng bom
- Người nghệ sĩ guitar phi truyền thống
- Đỗ Phương Nhi - Nghệ sĩ violin tài năng trẻ tuổi nhất Việt Nam hiện nay
- “Thế giới phép thuật” của Vy Minh
- Uyên Thảo: Vấn vương tiếng lòng của… nghiệp tổ
- Đồng Đội, những điều bạn chưa biết







Album độc tấu guitar mới của Nghệ sĩ Văn Vượng mang tên “Trái tim thắp lửa” gồm 12 tình khúc Việt của nhiều tác giả do chính Văn Vượng tuyển chọn, chuyển soạn và thể hiện.






